Trang thơ Trần Dần
Tiểu sử
Trần Dần tên thật là Trần Văn Dần (23 tháng 8 năm 1926-17 tháng 1 năm 1997), nguyên quán thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Cha Trần Dần là một viên chức kho bạc Nam Định. Ông học qua bậc Thành chung ở quê rồi lên Hà Nội học tiếp và đỗ Tú tài Triết. Năm 1946, Trần Dần cùng Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương thành lập nhóm thơ tượng trưng Dạ đài với tuyên ngôn 16-11-1946 với những câu: “Chúng tôi, một lũ người vong gia thất thổ, trót đầu thai nhằm lúc sao mờ…”. Đến ngày 19-12-1946, ông cùng nhóm Dạ đài ra số báo Dạ Đài 2, khi Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông trở về Nam Định tham gia công tác thông tin tuyên truyền ở huyện Vụ Bản rồi làm việc ở Sở Tuyên truyền Khu IV. Năm 1948, ông tham gia Vệ quốc quân, ở Ban Chính trị Trung đoàn 148 Sơn La (nay thuộc Sư đoàn 316), làm công tác tuyên truyền cùng Vũ Khiêu, Vũ Hoàng Địch, sau đó làm báo ở mặt trận Tây Bắc và phụ trách văn công Trung đoàn 148 Sơn La. Trần Dần cùng Trần Thư, Hoài Niệm tham gia sáng lập nhóm văn nghệ quân đội đầu tiên – Nhóm Sông Đà. Thời gian này ông bắt đầu làm thơ bậc thang và vẽ tranh lập thể, bị cho là khó hiểu. Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc ấy có tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) từ năm 1949. Năm 1954, cùng với Đỗ Nhuận, Tô Ngọc Vân, Trần Dần tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và viết truyện dài Người người lớp lớp. Chiến dịch kết thúc, ông được cử sang Trung Quốc viết thuyết minh phim Chiến thắng Điện Biên Phủ. Tuy nhiên do bất đồng với người cán bộ chính trị đi cùng nên ông “nhường” cho người này viết thuyết minh. Năm 1955, Trần Dần viết đơn đề nghị được giải ngũ, ra khỏi Đảng và kết hôn với bà Bùi Thị Ngọc Khuê (gia đình bà Khuê có người di cư vào Nam, nên Đảng không cho phép đảng viên kết hôn vì lý lịch). Theo báo Nhân Dân, việc Trần Dần đòi ra Đảng đã làm cho một số người đi theo. Ông tham gia Phong trào Nhân văn-Giai phẩm, Trần Dần lên tiếng đòi tự do, đòi xuất bản các tác phẩm mang tính cách tân của mình, mặc dù đã bị Chính quyền lúc bấy giờ nhiều lần cảnh cáo nhưng ông vẫn giữ vững sáng tác, ông liên tiếp cho ra đời các tác phẩm phê phán như “Lão rồng” và chuyện “Anh Cò Lấm” phê phán cải cách ruộng đất để rồi sau đó bị bắt giam. Năm 1961 ông trở về Hà Nội và từ đó đến năm 1986, kiếm sống bằng nghề dịch sách, tô màu ảnh, vẽ tranh, không tham gia đời sống văn học chính thống. Con trai ông, Trần Trọng Vũ, mô tả trong thời kỳ này ông sống cô đơn ngay giữa căn nhà mình, không có những chia sẻ thân thiết giữ người thân vì nỗi cô đơn quá lớn. Trong hồi ức của các con ông, Trần Dần ít khi buồn, không có một phàn nàn và không bao giờ kể chuyện đời mình. Ông vẫn thầm lặng sáng tác, từ năm 1954 đến 1989 vẫn đều đặn viết nhật ký, những số đầu tiên có tựa là Ghi vặt, từ năm 1973 thành Sổ thơ và từ năm 1979 thành Sổ bụi. Nhận xét về giai đoạn này, ông có nói: Mình ngồi ba chục năm quen rồi. Ngồi mà vẫn đi, vẫn ngao du. Mình có cuốn sổ “bụi”, sổ “ngao du”. Mình đi chơi lang thang trong cuốn sổ này. Đây là sổ để ghi tất cả những gì mới nghĩ ra. Có khi ngoài cả ý thức. Đó là cách đi của mình. Đáng kinh ngạc hơn, ông vẫn kiên trì công cuộc cách tân thơ của mình. Ở Sổ bụi 1988 khi nói về Thơ mini ông có viết: “tôi thích viết cái chưa biết, mặc các ông viết cái đã biết. 90 có hoàn thành không? có thành công không để mà đốt đi? Tôi đã đốt tôi đi không phải chỉ đôi lần… cái chưa biết – cái khó – thậm chí cái bất khả thu hút và đắm đuối tôi”. “Sổ bụi” cuối cùng viết năm 1989, trước khi những năm cuối cuộc đời bệnh tật đã cướp đi của ông trí nhỡ và sự minh mẫn. Đặc biệt, Trần Dần không bao giờ mất lòng tin đến một ngày tác phẩm của mình được xuất bản trở lại. Sau khi ông mất, trong di cảo của ông, các con ông đã tìm thấy một tập bản thảo có ghi “Trần Dần tự xuất bản”, hay tập thơ “Bao giờ em đi lấy chồng” mà ông đã tự trình bày và minh họa sẵn cách đấy 35 năm. Đến thời kỳ Đổi mới, bước vào giai đoạn tác giả có thể bỏ tiền tự in, tự phát hành với sự cấp giấy phép của Nhà xuất bản, vài tác phẩm của ông được xuất bản trở lại như Trường ca “Bài thơ Việt Bắc” năm 1990 (cho dù chương 12 của bản Trường ca là toàn bộ bài thơ “Nhất định thắng” phải bỏ) và tập thơ tiểu thuyết “Cổng tỉnh” năm 1994, tác phẩm sau này đã đoạt giải thưởng của Hội nhà văn. Ông mất tại Hà Nội năm 1997. Sau khi ông mất, người con trai thứ hai, nhà quay phim Trần Trọng Văn đã bỏ ra nhiều thời gian sắp xếp lại kho tang di cảo mà Trần Dần để lại. Đến đầu năm 2008, Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Đà Nẵng đã cho phát hành cuốn “Trần Dần – Thơ”, được coi là công trình đồ sộ nhất từng được xuất bản về Trần Dần. Trần Dần được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
-
Cổng tỉnh (trích)
Tháng Mười Một9[...]
Các bạn ạ !
Tôi đã không thể thoát bơ vơ nếu không
nhờ các bạn…
Nếu không Thi-mệnh bọc đùm…
Ôi ! phố mẹ ! Để tôi về phố mẹ
Tôi về tảo mộ xó quê tôi…
Tôi tảo mộ từ một dứt ruột đã qua
Từ một dại khờ chưa hết dại…Phải !
Tôi kiểm thảo bản thân cùng một thời đại buồn rầu[...]
Từ khóa: Nhân Văn Giai Phẩm
-
Ngã tư xưa
Tháng Mười9Anh muốn rao lên cho làng nước biết
hôm nay em bạc đãi một người.
Nhưng em ơi! anh chỉ đến ngã tư xưa
anh đứng dưới môt ngôi đèn bỏ.Từ khóa: Kỉ niệm
-
Thơ mi-ni
Tháng Chín26[...]
Tôi khóc những chân trời không có người bay
Lại khóc những người bay không có chân trời[...]
-
Không đề số 4
Tháng Ba14Mưa rơi phay phay
Ngã tư năm ngoái
Biết tôi khờ dại
Em đi không sao chống cự nổi
Đại lộ tai hại
Em dài man dại
Em dài quên che đậy
Em dài tê tái
Em dài quên cân đối
Em dài bối rối
Em dài vô tội
Em dài – khổ tâm -
Tình yêu
Tháng Ba10Em ơi
anh không ngủ được
bốn đêm rồi !
Nhớ em
đường phố Sinh Từ
đen cả mũi
mùi than
mùi bụi
Nhớ gian nhà
bây giờ
lùi lũi
một mình em
Em ạ
Tình yêu không phẳng lặng bao giờ
Nó đè sóng
đè mưa
nổi bão…
Tình yêu
không phải chuyện
đưa cho nhau
ngày một bó hoa
Nó là chuyện
những đêm ròng
không ngủ
tóc tai bù
như những rặng cây to
nó vật vã
những đêm trời động gió
Tình yêu
không phải là
kề vai mơ
[...]Từ khóa: Tình yêu
-
Nhất Định Thắng
Tháng Hai3Tôi ở phố Sinh Từ:
Hai người
Một gian nhà chật.
Rất yêu nhau, sao cuộc sống không vui?
Tổ Quốc hôm nay
tuy gọi sống Hòa Bình
Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc rối tinh…
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
Khi mảng vui – khi chợt [...]Từ khóa: Chiến tranh, Cuộc đời, Loạn lạc, Nhân Văn Giai Phẩm, Việt Nam