Thica.net

Mạng thi ca Việt Nam

Trang thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính

Nguyễn Bính sinh vào năm 1918 với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định).

Theo tài liệu được Hội Nhà Văn ở Hà Nội công bố về tiểu sử của ông: thuở nhỏ Nguyễn Bính không được đi học ở nhà trường mà chỉ được học ở nhà với cha là ông đồ nho Nguyễn Đạo Bình và đồng thời cũng được người cậu ruột là Bùi Trinh Khiêm dạy kèm. Ông mồ côi mẹ rất sớm, cha đi bước nữa, gia đình túng quẫn, nên khi lên 10 tuổi đã phải theo anh ruột là Nguyễn Mạnh Phác ra Hà Nội sinh sống. Thời gian này ông được người anh dạy học ở nhà. Năm 13 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ và năm 1937 được giải khuyến khích về thơ của nhóm Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi. Những năm đầu thập niên 1940, Nguyễn Bính nhiều lần lưu lạc vào miền Nam. Lúc này ông đổi tên là Nguyễn Bính Thuyết. Năm 1943, Nguyễn Bính lại đi vào miền Nam lần thứ ba và đã gặp Đông Hồ, Kiên Giang. Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang. Đó là thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ độ về đây… Chính vì vậy ông được gọi là “thi sĩ giang hồ”.

Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Nam. Đến năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được bố trí phục vụ trong Hội Nhà Văn ở Hà Nội một thời gian.

Năm 1956, ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ Trăm Hoa (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà Văn) và tham gia vào phong trào Nhân văn – Giai phẩm.

Đến năm 1958, ông bị buộc chuyển về tỉnh nhà Nam Định, làm việc tại Ty Văn hoá Nam Định cho đến khi mất.

Nguyễn Bính mất sáng ngày 20 tháng 1 năm 1966, tức ngày 29 tháng chạp âm lịch xuân Ất Tị, tại nhà một người bạn ở huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam. Khi đó không một người vợ con ruột thịt nào của ông có mặt.

Nguyễn Bính được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000


  • Xuân vẫn tha hương


    [...]

    Trọc phú ti toe bàn thế sự
    Ðĩ già tấp tểnh nói văn chương
    Ðã coi đồng bạc như non Thái
    Lại học đòi theo thói Mạnh Thường

    Lẳng lơ đi võng, đi tàn cả
    Gái chính chuyên kia đứng vệ đường
    Ðất đổi hoa màu, nhà đổi chủ
    Trâu quên mục tử, ngựa quên chuồng

    Thay đen đổi trắng bao canh bạc
    Vẽ nhọ, đeo râu mấy lớp tuồng
    Trói vo hồn lại ba đồng bạc
    Bán rẻ đời đi nửa đấu lương

    Chao ôi! Giả dối, ôi mai mỉa!
    Sống chật phồn hoa một lũ Mường
    Chị ơi, tất cả là vô nghĩa
    Chả nhiễu điều nào phủ giá gương

    [...]

  • Đêm mưa nhớ bạn


    Đương đêm trời đổ mưa rào
    Nằm đây mơ dáng lầu cao kinh thành
    Mây hồ trắng, nước hồ xanh
    Ngày xưa hai đứa chúng mình quen nhau
    Chung vui cho đến chung sầu
    Lòng thơ chung trắng, mái đầu chung xanh
    Cái ga Hàng Cỏ vô tình
    Bỗng ai đem dựng trường đình mà chơi!

    [...]

  • Thư gửi về Bắc


    [...]

    Rồi men tráng lệ châu thành ấy
    Từ đấy in thêm bóng một người
    Bóng một nhà thơ đầy nguyện vọng
    Giầu lòng tin tưởng bước tương lai

    Nhà thơ còn trẻ lắm, anh ơi
    Chưa xã giao quen, chưa trải đời
    Song le trường học thiên nhiên sẽ
    Đào luyện nhà thơ nên một người

    [...]

  • Đàn tôi


    [...]

    Có cô lối xóm hàng năm
    Trồng dâu tốt lá, chăn tằm hơn tơ
    Năm nay biết đến bao giờ
    Dâu cô tới lứa, tằm cô chín vàng?
    Tơ cô óng chuốt mịn màng
    Sang xin một ít cho đàn có dây

  • Rắc bướm lên hoa


    Ai đem rắc bướm lên hoa
    Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng?
    Ai đem nhuộm lá cho vàng?
    Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?

  • Từ độ về đây


    Từ độ về đây sống rất nghèo
    Bạn bè chỉ có gió trăng theo
    Những thằng bất nghĩa xin đừng đến
    Hãy để thềm ta xanh sắc rêu