Thica.net

Mạng thi ca Việt Nam

  • Lúa sạ miền Nam

    Tác giả:

    Mời bạn về thăm quê hương lúa sạ
    Ngắm biển trời Đồng Tháp, đất An Giang.
    Gò Óc Eo còn dấu vết một kho tàng
    Nhớ thuở bòn vàng những năm đồ khổ
    Lặn dưới bùn sâu mở đường hơi thở
    Đưng[1] Ba Thê nhớ cỏ lúa Láng Linh
    Bảy Núi gọi mây dựng bức tường thành
    Ngăn gió độc cho xanh màu lá mạ

    Mời bạn về ôm chân cây lúa sạ
    Để reo mừng đau xót với Hậu Giang
    Mẩy trăm năm từ thuở mới khai hoang
    Nhạc rừng trâu vượt trời nghe đồng vọng
    Gọi nhau về miền Tây chân trời mộng
    Chào tay chai rạch đất thế lưỡi cày

    Thủy triều lên xuống vơi đầy
    Mồ hôi đổ xuống, đất lầy trổ bông

    Mời bạn về thăm vùng trời đất đứng
    Để lắng nghe mạch sống chảy âm thầm
    Dưới mặt nước, nhạc ngầm gợn dư âm
    Chuyển thành sóng dập vờn theo tóc lúa
    Lúa yêu đồng nên dịu dàng ca múa
    Trên địa đàng thơm ngát hương phù sa
    Cá tôm kéo về đại hội hải hà
    Ca mừng lúa với trường ca sung túc
    Mặt đất rộng phơi da đầu dưới nước
    Cho rễ dày đan tóc lúa rối đoanh
    Gió gợn mặt biển xanh
    Sóng xao tóc lúa vây quanh xóm làng

    Lúa lên theo nước
    Lúa vượt lên mây
    Lá mỏng lá dày
    Bao la biển lúa
    Gió nghiêng gió ngửa
    Sóng bủa láng cò
    Cây lúa dật dờ
    Như áo lụa thủy cung chào đại hội
    Về Miền Tây với bàn tay vẫy gọi
    Chào An Giang Bảy Núi tiếp Láng Linh
    Chào kênh Vĩnh Tế nối mạch Giang Thành
    Cho nước bạc từ sông xuôi biển cả
    Bằng tay thép với đôi chân tượng đá
    Những người xưa khai phá địa đàng xanh
    Sừng sững Thất Sơn một dãy trường thành
    Chim mỏi cánh vẫn bay vào bóng mát
    Leo cột buồm nhìn ruộng đồng man mác
    Yêu làm sao, trời đất, nước miền Nam
    Vẹt màn rêu trên bia đá núi Sam
    Ghi công đức Thoại Ngọc Hầu thuở trước
    Người xưa bảo: “Đây là vùng đất phước
    Đất oai hùng toàn nhân kiệt địa linh”
    Khi trời xanh trở xám lửa đao binh
    Lúa lặn xuống tránh mùi tanh thuốc súng
    Thân lúa mềm nhưng dẻo mềm chân đứng
    Đứng cùng người cùng lịch sử miền Nam
    Dù đớn đau bầm dập chẳng rên than
    Khi gục xuống là hẹn hò quật khởi

    Cò trắng ngàn năm bay chẳng mỏi
    Lưng trâu, sáo đậu ngóng mây chiều
    Bếp un dệt khói đan mùng lưới
    Giấc ngủ ru theo tiếng sáo diều

    Nước càng cao lúa càng cao
    Lúa lên theo nước vẫy chào áng mây
    Mồ hôi chảy xuống đất lầy
    Cho dài lá lúa cho đầy chén cơm

    Chiều chiều chống chiếc xuồng cui nhỏ
    Người chống sào như danh tướng chống gươm
    Khoát nước giữa đồng thăm đọt lúa
    Thêm yêu đồng ruộng mến quê hương
    Tay chai sỏi đá
    Vuốt đọt lúa non
    Ngỡ bồng con nhỏ, ngỡ ôm vợ hiền
    Lúa là ngọc
    Lúa là tiền
    Lúa ru ta lớn trong niềm yêu thương

    Lớp người chết dựng mùa xuân chín
    Xác lạnh buộc dây bó đệm bàng
    Thịt rã tan từ mùa nước nổi
    Bón phân đất béo, hột cơm vàng

    Lúa sạ vượt trời cao đất đứng
    Bừng bừng hào khí ngút trăng sao
    Trái tim bằng thép, chân bằng đá
    Nước xoáy lòng sông cuộn máu đào

    Màu toóc nâu Nàng Tây[2] gạo Điểm
    Ngàn năm bốc khói bếp phù sa
    Hãy về sông Hậu sông Tiền cũ
    Dựng lại quê hương dưới mái nhà

    Dầu ăn gạo Mỹ chở tàu binh
    Đừng phụ gạo quê đất nước mình
    Lúa sạ vẫn còn nguyên rễ mẹ
    Địa đàng còn rộng chân trời xanh.

    Miền Tây mùa nước lụt 1964

    Chú thích

    1. Còn gọi là đước nhọn, một loại cây có nhiều trong các rừng ngập mặn Trung Bộ và Nam Bộ ^
    2. Tên một giống lúa được trồng nhiều trong những năm 1940 – 1970 ở miền Tây Nam Bộ ^

    Bình luận

    ví dụ: http://www.example.com

    Lời bình: (Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu)